Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Real Madrid CF | ||||
|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Real Madrid Club de Fútbol | |||
| Biệt danh | Los Blancos Los Merengues Los Vikingos (Những người Viking) | |||
| Thành lập | 6 tháng 3, 1902 | |||
| Sân vận động | Santiago Bernabéu, Madrid, Tây Ban Nha | |||
| — Sức chứa | 85,454 | |||
| Chủ tịch | ||||
| Huấn luyện viên | ||||
| Giải đấu | La Liga | |||
| 2014-2015 | 2rd | |||
| ||||
Real Madrid Club de Fútbol (Câu lạc bộ Bóng đá Hoàng gia Madrid), thường được gọi là Real Madrid, là một câu lạc bộbóng đá chuyên nghiệp tại Madrid, Tây Ban Nha. Đội bóng mặc màu áo trắng truyền thống từ khi được thành lập vào 6 tháng 3 năm 1902 với tên gọi Câu lạc bộ Bóng đá Madrid. Từ Real có nghĩa là Hoàng gia và đã được vua Alfonso XIII phong cho câu lạc bộ vào năm 1920 cùng chiếc vương miện trong logo của đội. Câu lạc bộ đã trở thành một thế lực lớn trên đấu trường trong nước và châu Âu từ những năm 1950.
Không giống như hầu hết các câu lạc bộ bóng đá khác ở châu Âu, những thành viên của Real Madrid (thường được gọi làsocios) đã sở hữu và điều hành đội bóng từ khi thành lập. Đây là câu lạc bộ bóng đá giàu nhất thế giới hiện nay với tổng thu nhập năm 2011 lên tới 438,6 triệu euro[1] và câu lạc bộ đáng giá nhất thế giới với tổng giá trị 1,4 tỷ euro.[2] Real Madrid có nhiều kình địch, nổi bật nhất là Barcelona cùng những trận El Clásico (hay còn gọi là Siêu kinh điển) giữa 2 đội. Sân nhà của đội từ năm 1947 là Sân vận động Santiago Bernabéu tại quận Chamartín, trung tâm Madrid. Sân được khánh thành ngày 14 tháng 12 năm 1947 với sức chứa hiện nay là 85.454 khán giả và kích thước đường chạy là 106x72 mét.
Cùng với Athletic Bilbao và Barcelona, Real Madrid là một trong ba đội bóng chưa bao giờ bị xuống khỏi giải đấu hạng nhất Tây Ban Nha. Ở đấu trường quốc nội, câu lạc bộ đã giành được kỉ lục 32 chức vô địch La Liga, 19 Cúp Nhà vua Tây Ban Nha, 9 Siêu cúp Tây Ban Nha, 1 Copa Eva Duarte và 1 Copa de la Liga.[3] Ở đấu trường quốc tế, Real Madrid lập kỉ lục 10 danh hiệu European Cup/UEFA Champions League, đồng kỉ lục với 3 Cúp liên lục địa, 2 Cúp UEFA Europa League và 2Siêu cúp châu Âu.
Mục lục
[ẩn]- 1 Lịch sử
- 1.1 Những năm đầu tiên (1897–1945)
- 1.2 Santiago Bernabéu Yeste và thành công ở châu Âu (1945–1978)
- 1.3 Quinta del Buitre và Cúp châu Âu thứ 5 (1980–2000)
- 1.4 Los Galácticos (Dải ngân hà) (2000-2006)
- 1.5 Thời Ramón Calderón (2006-2009)
- 1.6 Kỷ nguyên thứ hai của Pérez và Mourinho (2009–2013)(Los Galácticos 2.0)
- 1.7 Triều đại của Ancelotti (2013-2015) và Decima - Chức vô địch lần thứ 10
- 1.8 Thời Rafael Benitez (2015-nay)
- 2 Biểu trưng và đồng phục thi đấu
- 3 Thành tích
- 3.1 Danh hiệu chính thức
- 3.2 Các giải thưởng khác
- 4 Tổ chức
- 5 Đội hình hiện tại
- 5.1 Danh sách cho mượn
- 5.2 Gọi lên
- 6 Thống kê
- 7 Những kỉ lục chuyển nhượng
- 8 Ban lãnh đạo
- 8.1 Ban huấn luyện
- 8.2 Hội đồng quản trị
- 9 Chủ tịch câu lạc bộ
- 10 Huấn luyện viên
- 11 Các đối thủ cùng thành Madrid
- 12 Tham khảo
- 13 Liên kết ngoài
Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]
Những năm đầu tiên (1897–1945)[sửa | sửa mã nguồn]
Khởi đầu của Real Madrid bắt đầu khi bóng đá được mang tới thành Madrid bởi những giảng viên và sinh viên của Học viện Tự do, trong đó có nhiều người đến từ Cambridge và Oxford. Họ thành lập Câu lạc bộ Bóng đá Sky vào năm 1897, thi đấu vào những buổi sáng Chủ nhật tạiMoncloa. Câu lạc bộ tách ra làm hai vào năm 1900: Câu lạc bộ bóng đá Madrid mới và Câu lạc bộ Madrid.[4] Vào ngày 6 tháng 3 năm 1902, sau khi hội đồng mới đứng đầu là Juan Padrós được bầu ra, Câu lạc bộ Bóng đá thành Madrid được chính thức thành lập.[5] Ba năm sau, vào năm 1905, Madrid FC giành được danh hiệu đầu tiên khi đánh bại Athletic Bilbao trong trận chung kết Cup Nhà vua Tây Ban Nha. Câu lạc bộ trở thành một trong những thành viên đầu tiên của Liên đoàn Bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha vào ngày 4 tháng 1 năm 1909, khi chủ tịch câu lạc bộ Adolfo Meléndez ký thỏa thuận thành lập Hiệp hội Bóng đá Tây Ban Nha. Đội bóng bắt đầu chuyển sang sử dụng sân Campo de O'Donnell vào năm 1912.[6] Năm 1920, câu lạc bộ đổi tên thành Real Madrid sau khi được Vua Alfonso XIII đứng ra bảo hộ và phong tước vị "Hoàng gia".[7]
Năm 1929, Giải Vô địch Quốc gia Tây Ban Nha được thành lập. Real Madrid dẫn đầu mùa giải đầu tiên cho tới trận đấu cuối cùng, thất bại trướcAthletic Bilbao khiến đội chỉ xếp ở vị trí thứ 2 sau Barcelona.[8] Đội bóng giành được chức Vô địch Quốc gia vào mùa giải 1931–1932 và trở thành đội đầu tiên bảo vệ thành công chức vô địch ở mùa giải tiếp theo.[9]
Ngày 14 tháng 4 năm 1938, đội bóng mất danh xưng Real và dùng lại tên Madrid C.F. vì sự ra đời của nền Cộng hòa ở Tây Ban Nha. Bóng đá được vẫn được diễn ra trong Thế chiến 2 và vào ngày 13 tháng 6 năm 1943, Madrid đè bẹp Barcelona 11–1 trong trận lượt về bán kết[10] Cúp Nhà vua Tây Ban Nha. Có người cho rằng những cầu thủ đã bị đe dọa bởi chính quyền,[11] như việc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã "khẳng định với đội bóng rằng một vài người trong số họ còn chơi bóng chẳng qua là nhờ sự rộng lượng của chế độ này cho phép họ có mặt tại đất nước."[12](p26) Chủ tịch Barcelona,Enric Piñeyro, đã bị hành hung bởi các cổ động viên Madrid.[13](p284)
Santiago Bernabéu Yeste và thành công ở châu Âu (1945–1978)[sửa | sửa mã nguồn]
Santiago Bernabéu Yeste trở thành chủ tịch Real Madrid năm 1945.[14] Dưới thời ông, câu lạc bộ, sân nhà Santiago Bernabéu và sân tập Ciudad Deportiva được tu sửa lại sau khi bị hư hại trong cuộc nội chiến. Từ năm 1953, ông đưa về Madrid một loạt các cầu thủ ngoại đẳng cấp thế giới mà tiêu biểu nhất chính là Alfredo Di Stéfano.[15]
Năm 1955, dựa trên ý tưởng của tổng biên tập tờ báo thể thao Pháp L'Équipe Gabriel Hanot, Bernabéu, Bedrignan và Gusztáv Sebes khởi xướng một giải đấu thường niên kêu gọi tất cả các đội bóng châu Âu tham dự, giải đấu mà ngày nay được biết đến dưới tên UEFA Champions League.[16] Dưới thời Bernabéu, Real Madrid trở thành một thế lực hùng mạnh của cả bóng đá Tây Ban Nha nói riêng và châu Âu nói chung. Đội bóng đoạt năm Cúp châu Âu từ năm 1956 đến năm 1960, trong đó có chiến thắng 7-3 trước Eintracht Frankfurt trong trận chung kết Cúp châu Âu mùa 1959-1960 trên sân Hampden Park.[15] Sau năm thành công liên tiếp, Real được phép giữ phiên bản thật của chiếc Cup, và có quyền in Huy chương Danh dự của UEFA lên áo thi đấu.[17] Real Madrid dành chiếc cup thứ sáu mùa 1965-1966 khi đánh bại FK Partizan 2–1 trong trận chung kết với một đội hình mà tất cả các cầu thủ đều có cùng quốc tịch.[18] Đội hình ấy được gọi là Yé-yé. Cái tên "Ye-yé" xuất phát từ đoạn điệp khúc "Yeah, yeah, yeah" trong bài hát "She Loves You" củaThe Beatles sau khi bốn thành viên của đội chụp hình cho tờ Marca với những bộ tóc giả trên đầu. Thế hệ Ye-yé cũng là Á quân các kì Cúp châu Âu 1962 và 1964.[18]
Vào những năm 1970s, Real Madrid dành thêm 5 danh hiệu La Liga và 3 Cúp nhà Vua.[19] Đội bóng lọt vào trận chung kết UEFA Cup lần đầu tiên vào năm 1971 và thất bại trước đội bóng Anh là Chelsea với tỉ số 1-2.[20] Ngày 2 tháng 7 năm 1978, chủ tịch câu lạc bộ Santiago Bernabéu qua đời khiWorld Cup đang được tổ chức tại Argentina. Liên đoàn bóng đá thế giới FIFA quyết định để tang ba ngày trong thời gian diễn ra giải đấu để vinh danh ông.[21] Mùa giải sau đó, câu lạc bộ tổ chức Cúp Santiago Bernabéu đầu tiên để tưởng nhớ vị cố chủ tịch.
Quinta del Buitre và Cúp châu Âu thứ 5 (1980–2000)[sửa | sửa mã nguồn]
Đầu những năm 1980s, Real Madrid mất đi vị thế của mình ở La Liga cho đến khi một nhóm những ngôi sao "cây nhà lá vườn" mang thành công ở đấu trường quốc nội tới câu lạc bộ.[22] Phóng viên thể thao người Tây Ban Nha Julio César Iglesias đặt cho thế hệ cầu thủ ấy cái tên La Quinta del Buitre(Tạm dịch là "Năm con Kền kền") lấy từ biệt danh của một trong những cầu thủ, Emilio Butragueño. Bốn người còn lại là Manuel Sanchís, Martín Vázquez, Míchel và Miguel Pardeza.[23] Với La Quinta del Buitre (chỉ còn bốn thành viên sau khi Pardeza chuyển tới Zaragoza năm 1986) cùng những trụ cột như thủ môn Francisco Buyo, hậu vệ phải Miguel Porlán Chendo và tiền đạo người Mexico Hugo Sánchez, Real Madrid sở hữu một trong những đội hình xuất sắc nhất Tây Ban Nha và châu Âu suốt nửa cuổi thập kỉ 80, đoạt 2 cúp UEFA, 5 chức La LigaVô địch Tây Ban Nha liên tiếp, 1 Cúp nhà Vua và 3 Siêu cúp Tây Ban Nha.[23] Đầu những năm 1990s, La Quinta del Buitre chia rẽ sau khi Martín Vázquez, Emilio Butragueño và Míchel rời khỏi câu lạc bộ.
Năm 1996, Chủ tịch Lorenzo Sanz chỉ định Fabio Capello làm huấn luyện viên của đội. Dù nhiệm kỳ của ông chỉ kéo dài đúng một mùa, Real Madrid vẫn khẳng định được vị thế nhà vô địch. Những cầu thủ như Roberto Carlos, Predrag Mijatović, Davor Šuker và Clarence Seedorf được đưa về để củng cố đội hình vốn đã hùng mạnh với những Raúl,Fernando Hierro, Iván Zamorano, và Fernando Redondo. Kết quả, Real Madrid (với sự gia nhập của Fernando Morientes năm 1997) cuối cùng cũng kết thúc 32 năm mòn mỏi chờ đợi chiếc Cúp châu Âu thứ bảy. Năm 1998, dưới sự dẫn dắt của Jupp Heynckes, đội bóng áo trắng đánh bại Juventus 1–0 trong trận chung kết nhờ bàn thắng của Predrag Mijatović.[24]
Los Galácticos (Dải ngân hà) (2000-2006)[sửa | sửa mã nguồn]
Tháng 7 năm 2000, Florentino Pérez được bầu làm chủ tịch câu lạc bộ.[25] Ông tuyên bố trong chiến dịch tranh cử của mình sẽ xóa bỏ khoản nợ 270 triệu Euro của câu lạc bộ và nâng cấp cơ sở vật chất cho đội. Dù vậy, lời hứa quan trọng nhất của ông đã thành công khi đưa về Luís Figo.[26] Năm tiếp theo, đội bóng tái phân vùng khu tập luyện và bắt đầu tập hợp Dải ngân hà Galáctico nổi tiếng với những gương mặt lẫy lừng như Zinédine Zidane,Ronaldo, Luís Figo, Roberto Carlos, Raúl và David Beckham. Không thể phủ nhận đây là một canh bạc lớn khi đội bóng không thể giành được danh hiệu gì trong ba mùa giải sau khi dành một cúp UEFA Champions League, 1 Cúp liên lục địa năm 2002 và La Liga năm 2003.[27]
Những ngày sau chiến thắng của đội bóng tại giải vô địch quốc gia 2003 diễn ra một loạt các cuộc tranh cãi. Đầu tiên là khi Perez sa thải vị huấn luyện viên vừa mang vinh quang về cho đội sau khi Giám đốc Thể thao của Real khẳng định rằng del Bosque không phải người thích hợp cho công việc này; rằng họ cần một người trẻ hơn để cải tổ đội bóng.[cần dẫn nguồn] Bầu không khí căng thẳng tiếp tục khi huyền thoại đội trưởng Fernando Hierro rời bỏ câu lạc bộ sau một sự bất đồng ý kiến với ban giám đốc, theo chân là Steve McManaman.[cần dẫn nguồn] Dù vậy, đội bóng vẫn lên đường đi thi đấu giao hữu chuẩn bị cho mùa giải sau ở châu Á và giới thiệu bản hợp đồng mới: David Beckham. Perez và ban giám đốc từ chối gia hạn hợp đồng và tăng lươngClaude Makélélé. Makelele cảm thấy thất vọng và chuyển đến Chelsea F.C..[cần dẫn nguồn] Vào những ngày cuối cùng của thị trường chuyển nhượng, Fernando Morientes ra đi theo dạng cho mượn đến Monaco. [cần dẫn nguồn] Real Madrid, với sự dẫn dắt của huấn luyện viên mới Carlos Queiroz, bắt đầu mùa giải La Liga một cách chậm chạp với chiến thắng nhọc nhằn trước Real Betis.[cần dẫn nguồn]
Mùa giải 2005-2006 khởi đầu với một loạt những bản hợp đồng đầy hứa hẹn — Julio Baptista (20 triệu Euro), Robinho (30 triệu Euro) và Sergio Ramos(30 triệu Euro – Điều khoản phá vỡ hợp đồng) — nhưng vị huấn luyện viên người Brazil không thể tìm ra đội hình phù hợp. Real Madrid tiếp diễn màn trình diễn nghèo nàn với thất bại nhục nhã trước F.C. Barcelona trên sân nhà Santiago Bernabéu.[cần dẫn nguồn] Luxemburgo từ chức và được thay thế bởiJuan Ramón López Caro, huấn luyện viên đội B là Real Madrid Castilla lúc bấy giờ.[cần dẫn nguồn] Thay đổi không hề đem lại làn gió mới mà thay vào đó là thất bại 1-6 trước Real Zaragoza ở lượt đi tứ kết Cúp nhà Vua.[cần dẫn nguồn] Một thời gian ngắn sau đó, Real Madrid bị loại khỏi Champions League năm thứ tư liên tiếp sau khi thua Arsenal. Ngày 27 tháng 2 năm 2006, Florentino Pérez từ chức.[28]
Thời Ramón Calderón (2006-2009)[sửa | sửa mã nguồn]
Ramón Calderón được bầu làm chủ tịch câu lạc bộ ngày 2 tháng 7 năm 2006 đồng thời chỉ định Fabio Capello làm huấn luyện viên mới vàPredrag Mijatović làm Giám đốc Thể thao. Real Madrid đoạt danh hiệu La Liga đầu tiên trong 4 năm vào năm 2007.[29] Ngày 9 tháng 6 năm 2007, Real làm khách của Zaragoza tại La Romareda. Trận đấu khởi đầu một cách tệ hại khi Real Madrid phải thay đổi đội hình chỉ vài phút trước giờ bóng lăn sau khi hậu vệ trẻ Miguel Torres gặp phải chấn thương gân kheo khi khởi động. [cần dẫn nguồn] Zaragoza dẫn trước Real 2-1 cho đến gần cuối trận trong khi Barcelona cũng đang dẫn trước Espanyol 2-1. Cơ hội vô địch của Kền kền trắng xem như đã chấm hết. Thế nhưng, hai bàn thắng của Ruud van Nistelrooy vào lưới Zaragoza và của Raúl Tamudo vào lưới Barca trong những phút cuối đã đem lại hy vọng cho Real Madrid.[cần dẫn nguồn] Sevilla lúc đó bị Mallorca cầm chân với tỉ số 0-0. Vậy là chiến thắng trước Mallorca trên sân nhà ở vòng sau sẽ mang lại cho đội bóng áo trắng danh hiệu La Liga thứ 30.[cần dẫn nguồn]
Ngày 17 tháng 6, Real đối mặt với Mallorca trên sân Bernabéu trong khi Barcelona và Sevilla lần lượt gặp Gimnàstic de Tarragona vàVillarreal. Real bị dẫn 0-1 ở hiệp 1, trong khi Barcelona dẫn 3-0 trên sân Tarragona; nhưng ba bàn thắng trong vòng 30 phút cuối đã đem chiến thắng 3-1 tới cho Real Madrid và danh hiệu quốc nội đầu tiên từ năm 2003. Reyes ghi bàn mở tỉ số sau đường kiến tạo của Higuaín. Một pha phản lưới nhà và một bàn thắng tuyệt đẹp khác của Reyes báo hiệu giờ ăn mừng đã tới với đội bóng áo trắng. Hàng ngàn cổ động viên của Real Madrid đã bắt đầu diễu hành đếnQuảng trường Cibeles để ăn mừng chức vô địch.[cần dẫn nguồn] [30]. Sang mùa giải 2007-08, Real Madrid tiếp tục thể hiện sức mạnh ở đấu trường trong nước khi bảo vệ thành công danh hiệu La Liga, qua đó họ có được danh hiệu quốc nội lần thứ 31.
Sang mùa giải 2008-09, với sự mạnh lên của kình địch Barcelona, Real Madrid không còn đủ sức cạnh tranh danh hiệu với đối thủ và phải trắng tay trên mọi mặt trận
Kỷ nguyên thứ hai của Pérez và Mourinho (2009–2013)(Los Galácticos 2.0)[sửa | sửa mã nguồn]
Ngày 1 tháng 6 năm 2009, Florentino Pérez bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai trên cương vị chủ tịch câu lạc bộ.[31][32] Ông tiếp tục với chính sách xây dựng đội hình Galácticos bằng việc đem Kaká về từ A.C. Milan[33] rồi ký hợp đồng mua Cristiano Ronaldo từ Manchester United với giá kỷ lục 80 triệu Bảng. Nhưng trong mùa giải 2009-10, Real Madrid lại thất bại trên mọi mặt trận. Tháng 4 năm 2010, HLV Manuel Pellegrini bị sa thải. Sau mùa giải đó, huyền thoại Raul González từ giã đội bóng. Tháng 5 năm 2010 José Mourinho trở thành huấn luyện viên trưởng.[34][35] Tháng 4 năm 2011, một sự kiện hiếm có diễn ra khi lần đầu tiên, 4 trận Siêu kinh điển diễn ra liên tiếp trong vòng 8 ngày. Trận đầu tiên trong khuôn khổ La Liga diễn ra ngày 17 tháng 4 (kết thúc với tỉ số hòa 1-1 từ 2 quả penalty), trận chung kết Cúp nhà Vua (Real thắng 1-0) và hai lượt trận bán kết Champions League đầy tranh cãi vào 27 tháng 4 và 2 tháng 5 (Real thua 1-3 sau cả hai lượt).
Trận Siêu kinh điển đầu tiên chứng kiến bàn thắng đầu tiên của Cristiano Ronaldo vào lưới Barcelona bằng một quả penalty sau pha phạm lỗi vớiMarcelo trong vòng cấm. Trận chung kết Cup nhà Vua mang lại cho Real Madrid danh hiệu đầu tiên dưới thời Mourinho với một cú đánh đầu củaCristiano Ronaldo trong khoảng thời gian bù giờ. Hai trận bán kết Champions League có lẽ chính là những trận gây tranh cãi nhiều nhất sau khi Pepe bị truất quyền thi đấu trong trận lượt đi trên sân Santiago Bernabéu, sau khi anh được cho là đã thực hiện một pha tranh bóng nguy hiểm đối với hậu vệ Barcelona Dani Alves. Alves đã được đưa lên cáng để đưa ra khỏi sân với lý do anh "không thể tự đi được". Nhưng sau khi Pepe nhận thẻ đỏ một thời gian rất ngắn, Alves đã trở lại sân thi đấu. Sau khi Pepe bị đuổi, huấn luyện viên José Mourinho cũng bị truất quyền thi đấu, bị phạt tiền và cầm chỉ đạo 5 trận. Trận đấu này cũng gây tranh cãi khi tiền vệ của Barcelona Sergio Busquets bị ghi hình trong một đoạn video cho thấy anh đang văng một từ ngữ mang tính phân biệt chủng tộc với hậu vệ trái của Madrid Marcelo. Trận lượt về không nhiều tranh cãi như trận trước, ngoại trừ bàn thắng bị trọng tài từ chối của Gonzalo Higuaín vì Cristiano Ronaldo đã "phạm lỗi" với Javier Mascherano do bị phạm lỗi trước đó bởi Gerard Piqué.[cần dẫn nguồn]
Real Madrid khởi đầu mùa bóng năm 2011-2012 bằng thất bại chung cuộc trước Barcelona ở Siêu cúp Tây Ban Nha. Tuy nhiên, Real Madrid đã thi đấu thành công trong giải quốc nội, thắng Barcelona trong trận Siêu kinh điển lượt về và giành chức vô địch La Liga với số điểm 100 và số bàn thắng kỉ lục 120 bất chấp Ronaldo phải xếp sau Messi trong cuộc đua Pichichi.
Mặc dù vô địch La Liga 2011-2012, Real lại không thi đấu thành công ở các đấu trường khác, họ chỉ lọt vào tứ kết Copa del Rey trước khi bị Barca loại. Còn ở Champions League, họ lọt vào bán kết và bị Bayern Munich loại sau loạt sút luân lưu.
Sang mùa giải 2012-13, Real Madrid đã chiêu mộ thành công tiền vệ Luka Modric với giá 40 triệu euro từ Tottenham Hospur. Real khởi đầu mùa giải khá suôn sẻ khi đánh bại Barca để dành siêu cúp Tây Ban Nha. Tuy nhiên, đội bóng lại khởi đầu tệ hại ở La Liga và bị Barca bỏ xa, cuối cùng phải nhìn kình địch đăng quang giải quốc nội ở cuối mùa. Ở Champions League, Real Madrid một lần nữa lọt vào bán kết nhưng lại thua Borussia Dortmund với tỉ số 2 - 3 sau 2 lượt trận. Và cay đắng nhất là trận thua Atletico Madrid 1 - 2 trong trận chung kết Copa del Rey tháng 5 năm 2013, khiến Real Madrid trắng tay cả mùa giải. Cũng chính thất bại trước Atletico khiến HLV Mourinho phải từ chức ngay sau đó.
Triều đại của Ancelotti (2013-2015) và Decima - Chức vô địch lần thứ 10[sửa | sửa mã nguồn]
Mùa hè 2014 mở đầu là những cải cách mới. Sau khi HLV Jose Mourinho từ chức, Real Madrid đã bổ nhiệm HLV Carlo Ancelotti lên làm HLV trưởng. Sau đó là 1 loạt bom tấn diễn ra, đáng chú ý nhất là bản hợp đồng đắt giá nhất thế giới Gareth Bale gia nhập đội chủ nhân Bernabeu với giá hơn 100 triệu euro. Tuy không thể đoạt chức vô địch La Liga do để thua 0-2 trước Celta Vigo, nhưng Real dưới thời Ancelotti đã xuất sắc danh được Cup nhà Vua khi đánh bại đại kình địch CLB Barcelona tại trận chung kết với tỷ số 2-1 trên sân Mestalla, đáng nói nhất là chiếc cup C1 lần thứ 10 sau hơn 12 năm chờ đơi. Nhờ bàn thắng gỡ hòa của Sergio Ramos ở phút 90+3 đã đưa Real và Atletico vào 2 hiệp phụ, lần lượt Gareth Bale, Marcelo Vieira và Cristiano Ronaldo ghi bàn ấn định chiến thắng 4-1 cho Real Madrid, qua đó hoàn thành giấc mơ Decima.
Mùa giải 2014-15, CLB Hoàng gia đã có được chữ kí của tân binh sáng giá, đồng thời cũng là vua phá lưới ở World Cup 2014, James Rodríguez với giá 80 triệu euro. Real Madrid khởi đầu với trận thua Atletico trong trận tranh Siêu cup Tây Ban Nha, nhưng sau đó với phong độ ấn tượng của mình, Real Madrid của Ancelotti giành tiếp 2 danh hiệu Siêu Cup Châu Âu khi đánh bại Sevilla và Cup các câu lạc bộ thế giới khi thắng San Lorenzo với cùng tỷ số 2-0. Ngoài ra họ xuất sắc thiết lập nên chuỗi 22 trận toàn thắng, và chỉ chấm dứt bởi trận thua 1-2 trên sân của Valencia. Sau trận thua đó, Real Madrid gần đánh mất phong độ của mình khi bị câu lạc bộ Atletico Madrid loại ở Cup nhà Vua với tổng tỷ số 2-4 sau 2 lượt trận đi và về (0-2 ở lượt đi, 2-2 ở lượt về). Kéo theo đó là việc trở thành cựu vương ở Cup C1 châu Âu khi bị Juventus cầm hòa 1-1 trên sân Bernabeu tại trận lượt về (do đã thua 1-2 ở lượt đi). Vào tháng 5 năm 2015, Barcelona đã chính thức giành được chức vô địch La Liga khi đánh bại Atletico 1-0, qua đó khiến Real Madrid khép lại mùa giải 2014-15 với thành tích trắng tay trên tất cả giải. Với việc trắng tay, HLV Carlo Ancelotti đã bị sa thải chỉ sau hơn 1 năm giúp Kền Kền Trắng hoàn thành giấc mơ Decima.
Thời Rafael Benitez (2015-nay)[sửa | sửa mã nguồn]
Tháng 6 năm 2015, Real Madrid chính thức bổ nhiệm Rafael Benitez làm huấn luyện viên trưởng, thay thể Carlo Ancelotti vừa mới bị sa thải.
Biểu trưng và đồng phục thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]
Phiên bản biểu trưng đầu tiên là một thiết kế đơn giản với 3 ký tự "MCF" viết tắt của Madrid Club de Fútbol màu trắng được xếp đè lên nhau trên nền xanh thẫm. Lần thay đổi đầu tiên vào năm 1908 mang lại những ký tự có dáng vẻ thuôn gọn hơn và được đặt trong một đường tròn.[36] Biểu trưng của câu lạc bộ vẫn giữ nguyên cho đến thời chủ tịch Pedro Parages năm 1920. Khi đó, Vua Alfonso XIII chính thức ban cho đội bóng tước vị hoàng gia và đứng ra bảo trợ cho họ.[37] Câu lạc bộ đổi tên thành "Real Madrid" và vương miện của Alfonso được vẽ thêm vào biểu trưng để thể hiện cho từ "Real".[36] Do sự sụp đổ của chế độ quân chủ năm 1931, mọi dấu hiệu của hoàng gia (hình ảnh vương miện và danh xưng "Real") được gỡ bỏ. Vương miện được thay thế bằng dải băng màu tím của chính quyền Castile.[9] Năm 1941, hai năm sau Cuộc nội chiến, biểu tượng "Real Corona", hay "Vương miện Hoàng gia", được khôi phục khi dải băng của Castile vẫn được duy trì.[14] Ngoài ra, vương miện được tô thêm màu vàng nổi bật, và câu lạc bộ lại một lần nữa mang tên Câu lạc bộ Bóng đá Hoàng gia Madrid.[36] Lần chỉnh sửa gần đây nhất là vào năm 2001 khi đội bóng muốn tiêu chuẩn hóa biểu trưng và khẳng định vị trí của chính mình cho thế kỷ 21. Từ đó, dải băng màu tím đã được đổi thành màu xanh thẫm.[36]
1902
|
1911
|
1931
|
1955
|
1982
|
1998
|
2002
|
2005-06
|
2006-07
|
2007-2008
|
2008-2009
|
2009-2010
|
2010-2011
|
2011-2012
|
2012-2013
|
2013-2014
|
2014-2015
|
2015-2016
|
| Giai đoạn | Tài trợ áo đấu | Tài trợ chính thức |
|---|---|---|
| 1980–1982 | Adidas | Không có |
| 1982–1985 | Zanussi | |
| 1985–1989 | Hummel | Parmalat |
| 1989–1991 | Reny Picot | |
| 1991–1992 | Otaysa | |
| 1992–1994 | Teka | |
| 1994–1998 | Kelme | |
| 1998–2001 | Adidas | |
| 2001–2002 | Realmadrid.com | |
| 2002–2005 | Siemens mobile | |
| 2005–2006 | Siemens | |
| 2006–2007 | BenQ-Siemens | |
| 2007–2013 | bwin | |
| 2013– | Fly Emirates |
Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]
Danh hiệu chính thức[sửa | sửa mã nguồn]
- Quốc tế
18 danh hiệu
UEFA Champions League/Cúp C1: 10 lần (kỉ lục)
- 1956, 1957, 1958, 1959, 1960, 1966, 1998, 2000, 2002, 2014
Cúp Liên lục địa: 3 lần (kỉ lục)
- 1960, 1998, 2002
UEFA Cup/Cúp C3: 2 lần
- 1985, 1986
UEFA Super Cup/Siêu cúp bóng đá châu Âu: 2 lần
- 2002, 2014
Cúp vô địch thế giới các câu lạc bộ: 1 lần
- 2014
- Quốc gia
61 danh hiệu
Vô địch Tây Ban Nha (La Liga): 32 lần
- 1931/32; 1932/33; 1953/54; 1954/55; 1956/57; 1957/58; 1960/61; 1961/62; 1962/63; 1963/64; 1964/65; 1966/67; 1967/68; 1968/69; 1971/72; 1974/75; 1975/76; 1977/78; 1978/79; 1979/80; 1985/86; 1986/87; 1987/88; 1988/89; 1989/90; 1994/95; 1996/97; 2000/01; 2002/03; 2006/07; 2007/08; 2011/12.
Cúp Nhà vua (Copa del Rey): 19 lần.
- 1904/05; 1905/06; 1906/07; 1907/08; 1916/17; 1933/34; 1935/36; 1945/46; 1946/47; 1961/62; 1969/70; 1973/74; 1974/75; 1979/80; 1981/82; 1988/89; 1992/93; 2010/11; 2013/14.
Siêu Cúp Tây Ban Nha (Supercopa de España): 9 lần.
- 1988; 1989; 1990; 1993; 1997; 2001; 2003; 2008; 2012
Cúp Liên đoàn bóng đá Tây Ban Nha (Copa de la Liga): 1 lần.
- 1984/85.
Các giải thưởng khác[sửa | sửa mã nguồn]
- Cúp Santiago Bernabéu (24): 1981; 1983; 1984; 1985; 1987; 1989; 1991; 1994; 1995; 1996; 1997; 1998; 1999; 2000; 2003; 2005; 2006; 2007; 2008; 2009; 2010; 2011; 2012; 2013.
- Cúp Latin (2): 1955; 1957.
- Cúp Bách niên AC Milan (1): 2000.
- Cúp Thế giới Nhỏ(2): 1952; 1956.
- Cúp Teresa Herrera(9): 1949; 1953; 1966; 1976; 1978;1979; 1980; 1994; 2013.
- Cúp Thành phố Barcelona(3): 1983; 1985; 1988.
- Cúp Ramón de Carranza(6): 1958; 1959; 1960; 1966; 1970; 1982.
- Cúp Benito Villamarín(1): 1960.
- Cúp Thành phố La Línea(5): 1978; 1981; 1982; 1986; 2000.
- Cúp Ciutat de Palma(4): 1975; 1980; 1983; 1990.
- Cúp Euskadi Asegarce(3): 1994; 1995; 1996.
- Cúp Colombino(3): 1970; 1984; 1989.
- Cúp Thành phố Vigo(2): 1951; 1982.
- Cúp Cam (Orange Cup) (2): 1990; 2003.
- Cúp Mohamed V(1): 1966.
- Cúp Thành phố Caracas(1): 1980.
- Cúp Iberia(1): 1994.
- Cúp Mancomunado(5): 1931/32; 1932/33; 1933/34; 1934/35;1935/36.
- Cúp Año Santo Compostelano(1): 1970.
- Guinness International Champions Cup(1): 2013.
Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]
Căn cứ theo website chính thức của câu lạc bộ
- Chủ tịch sở hữu: Florentino Pérez
- Chủ tịch danh dự: Alfredo Di Stéfano
- Tổng giám đốc: José Ángel Sánchez
- Giám đốc Thể thao: Zinedine Zidane
- Huấn luyện viên trưởng: Rafael Benítez
- Trợ lý HLV: Antonio Gómez
- Trợ lý HLV: Fabio Pecchia
- Nhân lực: José García Tomás
- Dịch vụ Pháp lí: Javier López Farré
- Giám đốc Bóng đá: Miguel Pardeza
- Giám đốc Bóng rổ: J.Carlos Sánchez-Lázaro
- Giám đốc Tài chính: Julio Esquedeiro
- Giám đốc Tài nguyên: Enrique Balboa
- Giám đốc Thương mại: Begoña Sanz
- Giám đốc Dịch vụ và Hoạt động: Fernando Tormo
- Giám đốc Thông tin: Antonio Galeano
- Giám đốc Quan hệ Hợp tác: Emilio Butragueño
- Giám đốc Nhân sự và Quản lý nội bộ: Carlos MTz. de Albornoz
- Giám đốc Hành chính và Văn phòng Chủ tịch: Manuel Redondo
- Tổ chức: Julio Glz. Ronco
- Quản lý CLB người hâm mộ: Jose Luis Sanchez
- Phát ngôn viên: Carmen Schz. de Molina
Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]
Số áo căn cứ theo website chính thức của câu lạc bộ
- Cập nhật: 1 tháng 7, 2015
Lưu ý: Các cờ cho đội tuyển quốc gia được xác định tại quy chuẩn FIFA. Cầu thủ có thể nắm giữ hơn một phi quốc tịch FIFA.
|
|
Danh sách cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]
Lưu ý: Các cờ cho đội tuyển quốc gia được xác định tại quy chuẩn FIFA. Cầu thủ có thể nắm giữ hơn một phi quốc tịch FIFA.
|
Gọi lên[sửa | sửa mã nguồn]
Lưu ý: Các cờ cho đội tuyển quốc gia được xác định tại quy chuẩn FIFA. Cầu thủ có thể nắm giữ hơn một phi quốc tịch FIFA.
|
|
Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến ngày 23 tháng 5 năm 2015, danh sách cầu thủ khoác áo nhiều nhất là:
| # | Tên | Giai đoạn | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 1994 - 2010 | 741 | 323 | |
| 2 | 1999 - nay | 725 | -751 | |
| 3 | 1983 - 2001 | 710 | 40 | |
| 4 | 1971 - 1988 | 645 | 290 | |
| 5 | 1953 - 1971 | 602 | 182 | |
| 6 | 1989 - 2003 | 601 | 128 | |
| 7 | 1973 - 1989 | 576 | 11 | |
| 8 | 1964 - 1980 | 561 | 172 | |
| 9 | 1981 - 1996 | 559 | 130 | |
| 10 | 1996 - 2010 | 542 | 76 |
Tính đến ngày 23 tháng 5 năm 2015, danh sách cầu thủ ghi bàn nhiều nhất là:
| # | Tên | Giai đoạn | Bàn thắng | Số trận | Hiệu suất |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 1994 - 2010 | 323 | 741 | 0.435 | |
| 2 | 2009 - nay | 313 | 300 | 1.043 | |
| 3 | 1953 - 1964 | 307 | 396 | 0.775 | |
| 4 | 1971 - 1988 | 290 | 643 | 0.451 | |
| 5 | 1958 - 1966 | 242 | 261 | 0.927 | |
| 6 | 1985 - 1992 | 208 | 283 | 0.735 | |
| 7 | 1953 - 1971 | 182 | 605 | 0.300 | |
| 8 | 1964 - 1980 | 172 | 561 | 0.307 | |
| 9 | 1984 - 1995 | 171 | 463 | 0.369 | |
| 10 | 1962 - 1976 | 155 | 471 | 0.329 |
Những kỉ lục chuyển nhượng[sửa | sửa mã nguồn]
Real Madrid nổi tiếng với những bản hợp đồng chuyển nhượng bom tấn, đáng nói nhất là Cristiano Ronaldo và Gareth Bale
| # | Cầu thủ | Từ CLB | Giá chuyển nhượng (triệu euro)[38][39] | Thời gian | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Manchester United | 94 | 6/2009 | [40] | |
| 2 | Tottenham | 91 | 9/2013 | [41] | |
| 3 | Monaco | 80 | 7/2014 | [42] | |
| 4 | Juventus | 75 | 7/2001 | [43] | |
| 5 | Milan | 65 | 6/2009 | [44] | |
| 6 | Barcelona | 62 | 7/2000 | [45] | |
| 7 | Lyon | 41 | 8/2009 | [46] | |
| 8 | Tottenham | 41 | 9/2012 | [47] | |
| 9 | Real Sociedad | 39 | 7/2013 | [48] | |
| 10 | Liverpool | 35 | 8/2009 | [49] |
Và cũng là CLB bán "hàng" đắt giá:
| # | Cầu thủ | Đến CLB | Giá chuyển nhượng (triệu euro)[38][39] | Thời gian | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Manchester United | 75 | 8/2014 | [50] | |
| 2 | Arsenal | 50 | 9/2013 | [51] | |
| 3 | Manchester City | 42.5 | 9/2008 | [52] | |
| 4 | Napoli | 39 | 7/2013 | [53] | |
| 5 | Paris Saint-Germain | 35.6 | 7/2000 | [54] | |
| 6 | Newcastle United | 25 | 9/2005 | [55] | |
| 7 | Bayern Munich | 24 | 8/2009 | [56] | |
| 8 | Chelsea | 20 | 9/2003 | [57] | |
| 9 | Internazionale | 18 | 8/2009 | [58] | |
| 10 | Milan | 15 | 8/2009 | [59] |
Ban lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]
Ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]
| Vị trí | Tên |
|---|---|
| HLV trưởng | Rafael Benítez |
| Trợ lý HLV | Antonio Gómez |
| Trợ lý HLV | Fabio Pecchia |
| HLV thủ môn | Xavi Valero |
| HLV thể lực | Paco de Miguel |
| Ủy nhiệm trận đấu | Chendo |
- Cập nhật lần cuối: 1 tháng 7 năm 2015
- Nguồn: Real Madrid
Hội đồng quản trị[sửa | sửa mã nguồn]
| Vị trí | Tên |
|---|---|
| Chủ tịch | Florentino Pérez |
| Phó chủ tịch | Fernando Fernández Tapias |
| Phó chủ tịch | Eduardo Fernández de Blas |
| Thư kí | Enrique Sánchez González |
| Tổng giám đốc | José Ángel Sánchez |
| Giám đốc văn phòng chủ tịch | Manuel Redondo |
| Giám đốc xã hội | José Luis Sánchez |
- Cập nhật lần cuối: 1 tháng 7 năm 2015
- Nguồn: Board of Directors, Organisation
Chủ tịch câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]
| Tên | Năm |
|---|---|
| 1900-1902 | |
| 1902-1904 | |
| 1904-1908 | |
| 1908-1916 | |
| 1916-1926 | |
| 1926-1930 | |
| 1930-1935 | |
| 1935-1936 | |
| 1936-1940 | |
| 1940-1943 | |
| 1943-1978 | |
| 1978-1985 | |
| 1985-1995 | |
| 1995-2000 | |
| 2000-2006 | |
| 2-4/2006 | |
| 4-7/2006 | |
| 2006-2009 | |
| 1-5/2009 | |
| 2009-nay |
Từ ngày thành lập đến nay, các chủ tịch câu lạc bộ Real Madrid đều là người Tây Ban Nha.
Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]
- Danh sách này chỉ liệt kê những huấn luyện viên đã từng giành được một chức vô địch nào đó với đội bóng[60][61]
.
| Tên | Giai đoạn | Vô địch | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Quốc nội | Quốc tế | |||||||||
| LL | SC | SS | LC | C1 | C3 | USC | IC | |||
| 1910–20 | ||||||||||
| 1930–32 | ||||||||||
| 1932–34 | ||||||||||
| 1934–36, 1939–41 | ||||||||||
| 1945–46, 1947–48 | ||||||||||
| 1946–47, 1950–51 | ||||||||||
| 1953–54 | ||||||||||
| 1954–57 | ||||||||||
| 1957–59, 1959 | ||||||||||
| 1959, 1960–74 | ||||||||||
| 1974–77 | ||||||||||
| 1979–82 | ||||||||||
| 1974, 1977–79, 1982, 1985–86 | ||||||||||
| 1986–89, 1992 | ||||||||||
| 1989–90, 1999 | ||||||||||
| 1990–91 | ||||||||||
| 1992–94 | ||||||||||
| 1994–96 | ||||||||||
| 1997–98 | ||||||||||
| 1998–99 | ||||||||||
| 1999-2003 | ||||||||||
| 2003–04 | ||||||||||
| 1996-97, 2006–07 | ||||||||||
| 2007–08 | ||||||||||
| 2010–2013 | ||||||||||
| 2013–2015 | ||||||||||
| Tổng thành tích | 1902–2015 | 32 | 19 | 8 | 1 | 10 | 2 | 2 | 4 | 77 |
Các đối thủ cùng thành Madrid[sửa | sửa mã nguồn]
Ba câu lạc bộ khác cùng thành phố là Atlético Madrid, Rayo Vallecano và Getafe đều thì đấu tại La Liga.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét